Trong cuộc sống, chắc hẳn nhiều người đã từng nghe câu “nam tả nữ hữu” trong các nghi lễ như cưới hỏi (cả Đông và Tây), cúng bái và đặt di ảnh bàn thờ tổ tiên, chôn cất, xem chỉ tay bói toán, bố trí nhà cửa, bố trí ở chùa chiền và ở nhà thờ và thậm chí trên…giường ngủ của vợ chồng. Trên thực tế, quan niệm này tồn tại hằng ngày nhưng rất ít người hiểu được ý nghĩ sâu xa của nó. Vậy ý nghĩa mối quan hệ của nó của nó với văn hóa truyền thống như thế nào? Liệu chúng ta đã áp dụng đúng vào cuộc sống hằng ngày chưa? Hãy cùng Phoenix Voyages Việt Nam tìm hiểu điều này nhé.

Nguồn gốc của quan niệm ‘Nam tả nữ hữu’?

Bạn có nghĩ đây là một quan niệm phong kiến hủ bại, cổ hỗ lỗ sĩ rồi không? Khác với một số người vẫn nghĩ đây là hủ tục, quan niệm “nam tả nữ hữu” thực chất là một quy tắc hoàn toàn hợp lý và được dựa trên cơ sở khoa học rất rõ ràng, liên quan mật thiết đến học thuyết thuyết âm dương.

Theo truyền thuyết, quan niệm này bắt nguồn từ câu chuyện thủy tổ Bàn Cổ của người Trung Hoa xưa. Theo cuốn “Ngũ vận lịch niên ký” có ghi chép rằng mắt trái của Bàn Cổ hóa thành Thần Mặt Trời, mắt phải hóa thành Thần Mặt Trăng. Nhiệm Phưởng, thế kỷ 6, cũng đã viết về huyền thoại Bàn Cổ trong quyển Thuật Dị Ký rằng: “ngày xưa khi Bàn Cổ chết, đầu biến thành bốn ngọn núi, hai mắt biến thành mặt trời và mặt trăng, mỡ biến thành sông biển, râu tóc biến thành thảo mộc…”.

Học thuyết âm – dương

Tạm gác chuyện Bàn Cổ qua một bên, chúng ta cùng điểm sơ qua học thuyết âm – dương nhé. Học thuyết này quy định đàn ông là dương, phụ nữ là âm. Trong cùng một con người thì học thuyết âm dương thể hiện khá phức tạp. Như với nam thì phía trên là dương, phía dưới là âm; hoặc phía sau lưng là dương, phía trước bụng là âm; phía tay trái là dương phía tay phải là âm. Cũng theo thuyết này, Yin là mặt trăng (âm), Yang là mặt trời (dương).

Đối chiếu với truyền thuyết Bàn Cổ đã nói ở trên, ta thấy bên trái (mắt trái và tay trái) thuỷ tổ Bàn Cổ là Yang (dương), còn mắt phải và tay phải là Yin (âm). Trong dân gian lưu truyền “nam tả nữ hữu” (nam trái nữ phải) chính là bắt nguồn từ câu chuyện này.

Theo thuyết âm dương, mọi vật trong vũ trụ khi sinh ra đều có hai mặt đối lập là âm và dương. Hai mặt âm dương là tương hỗ đối lập, là tương hỗ tồn tại. Bất kỳ một sự hiện tượng nào đó đều không thể tách khỏi sự vật hiện tượng khác để độc lập tồn tại, vì tồn tại trong phương diện này lại là tiền đề cho tồn tại của phương diện khác. Nói cách khác, sự vật trong tự nhiên là đều tồn tại song song: có lớn có bé, có dài có ngắn, có trên có dưới, có trái có phải. Hai thế lực đối lập nhau nhưng lại thống nhất với nhau trong vạn vật, là khởi đầu của mọi sinh thành biến hóa.

Âm dương hỗ căn, âm dương tiêu trưởng, âm dương chuyển hoá. Âm dương không loại trừ nhau mà tạo điều kiện tồn tại cho nhau, là động lực của mọi vận động và phát triển. Quy luật âm dương chỉ rõ mọi sự vật đều có âm dương, trong dương có âm, trong âm có dương, âm thăng dương giáng, âm dương cân bằng thì sự vật tồn tại”.

Vậy trong cuộc sống, “nam tả nữ hữu” được vận dụng thực tế như thế nào? Chúng ta hãy cùng nhau điểm qua một vài khía cạnh sau nhé.

Trong đời sống vợ chồng

Vận dụng quan niệm này vào trong cuộc sống, nhất là cuộc sống hôn nhân thì khi vợ chồng nằm cạnh nhau thì chồng nằm vị trí bên trái, còn vợ ở vị trí bên phải. Mặt khác, bên phải của nam là âm cần hợp với bên trái của nữ là dương, vậy nam nằm bên trái (tả), còn nữ nằm bên phải (hữu) nam là tạo nên một sự hoà quyện, bổ trợ lẫn nhau, hợp quy luật âm dương. Xét về khía cạnh tâm lý, việc vợ nằm bên trái và gối đầu lên tay phải của chồng thì sẽ thấy yên tâm hơn, cảm giác an toàn vì được người chồng che chở và bao bọc. Còn về phía người chồng thì họ sẽ thấy tự hào và hãnh diện vì được là người chở che cho vợ. Qua đó, cả hai dẽ đi vào giấc ngủ say và ngủ sâu hơn.

Theo quy luật sinh lý thì việc người chồng nằm ở bên tay trái để vợ nằm nghiêng về bên phải mình thì hô hấp dễ thông suốt, đồng thời làm cho thức ăn trong dạ dày đi vào ruột non được thuận lợi và có thể nằm lâu hơn. Còn nếu người chồng nằm bên phải vợ do tính chủ động của người đàn ông buộc anh ta phải nằm nghiêng bên trái mình để ôm vợ thì ở tư thế này không nằm lâu được vì tim bị chèn ép, do đó không có cặp vợ chồng nào nằm ở tư thế này thường xuyên.

Trong cưới hỏi

Cả ở Việt Nam và nhiều nước phương Tây, chúng ta vẫn thấy mọi người áp dụng nam tả nữ hữu. Tuy nhiên, một sự thật là trên thực tế, rất nhiều người đã áp dụng ngược lại. Thay vì nam trái, nữ phải theo chiều từ chỗ đứng làm lễ nhìn ra ngoài quan khách, thì một số người lại hiểu theo chiều ngược lại khiến cho việc áp dụng trong việc cưới hỏi bị sai. Nếu bạn chuẩn bị kết hôn, hoặc có người thân sắp kết hôn, hãy nằm lòng quy tắc này và áp dụng nó trong việc làm lễ cưới hỏi, kể cả khi chụp hình với đám bạn thân đi dự đám cưới nha. ♥

Trong việc đeo nhẫn cưới

Nếu để ý bạn sẽ thấy người nam đeo nhẫn ngón áp út tay trái, còn nữ đeo ngón áp út tay phải. Không phải ngẫu nhiên mà có quy luật đó. Trước tiên, cần làm rõ vì sao đeo nhẫn đính hôn hoặc nhẫn cưới ở ngón áp út?

Người La Mã xưa đã tin rằng, có các tĩnh mạch ở ngón tay thứ tư trên bàn tay được nối trực tiếp đến trái tim của một người. Với niềm tin này, họ gọi đây là “tĩnh mạch của tình yêu” và lý giải cho lý do tại sao đeo nhẫn ngón áp út. Một số ý kiến khác lại cho rằng, ngón áp út tay trái chính là ngón tay gần với trái tim nhất, vì vậy, nhẫn đính hôn hay nhẫn cưới nhất định phải được đeo ở đây. Tuy nhiên, người Nam sẽ đeo ngón áp út tay trái, còn nữ thì đeo ngón áp út tay phải vì áp dụng “nam tả nữ hữu” như đã nói ở trên.

👉 Gợi ý cho bạn một vài địa điểm chụp ảnh cưới xịn sò mà lãng mạn đây: Bảo Lộc se lạnh, Miền Tây sông nước hữu tình hay Six Sense Côn Đảo Resort & Spa 5*.

Trong thờ cúng

Tương tự như việc cưới hỏi, “nam tả nữ hữu” cũng thường xuyên được ứng dụng trong việc thờ cúng. Cụ thể, nếu theo đúng, trên bàn thờ, việc đặt sắp xếp ảnh người đã khuất phải theo quy luật, nam bên trái, nữ bên phải theo hướng từ trong bàn thờ nhìn ra ngoài.

Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta có thể bắt gặp ở nhiều nơi, thậm chí là chùa chiền, di ảnh mọi người đặt không theo trật tự này. Lý do đó là nhà Phật họ không áp dụng quan niệm này hoặc một gia đình áp dụng nhưng sai hướng.

 

Trong chôn cất người đã mất

Không những áp dụng trong việc thờ tự, từ xưa đến nay, người ta còn áp dụng quan niệm nam trái, nữ phải trong việc chôn cất người chết.

 

Trong việc bố trí nhà thờ Công Giáo

Trên bàn thờ Chúa của các gia đình Công Giáo thường có 3 tượng cơ bản: Tượng Chúa Chịu Nạn, tượng Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse được bố trí như sau: Đức Mẹ sẽ đặt bên phải bàn thờ còn Thánh Giuse đặt bên trái (theo hướng từ trong bàn thờ nhìn ra ngoài). Có khá nhiều cách giải thích cho cách bố trí này.

Thứ nhất, cách bài trí này bắt nguồn từ truyền thống của dân Do Thái, khi mà hoàng hậu ngồi bên phải vua (theo hướng từ vị trí ngồi nhìn ra). Theo sách Các vua quyển 1 (2,9) đã từng viết “Bathsheba đến gặp Vua Salomon, để nói giúp cho Adoni′jah. Nhà vua đứng lên để gặp bà, cúi chào bà, rồi ngồi lên ngai. Một chiếc ghế được đưa lên, để mẹ nhà vua ngồi bên phải ngài.”

Truyền thống này cũng được Đức Giáo hoàng Pio X xác nhận trong tông thư Ad Diem Illum Laetissimum. Ở đó ngài đã tuyên bố “Đức Mẹ ngồi bên phải Con của Mẹ.” Bên phải đây có nghĩa là bên tay phải Chúc Chị Nạn.

Thứ hai, cánh bên trái của Nhà thờ được coi là “Cánh Phúc Âm” còn Mẹ Maria được xem là Eva mới, người có vai trò then chốt trong công cuộc cứu độ.

Tuy nhiên, nếu kết nối điều này với quan niệm “nam tả nữ hữu” sẽ thấy điều này hoàn toàn trúng khớp. Câu hỏi là, đây là sự trùng hợp hay nó đã được áp dụng? Xin nhường điều này lại cho các độc giả tự khám phá.

Giờ thì bạn đã hiểu rõ vì sao người xưa lại quy định nam tả nữ hữu rồi phải không. Chung quy lại thì việc này không phải là cái gì đó xa vời hay lạ lẫm hết, mà ngược lại là theo đúng khoa học và triết lý âm dương. Do vậy, trong bất kì trường hợp nào hãy áp dụng nó một cách hài hòa hợp lý vì “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” bạn nhé!

Cao Hợp – Phoenix Voyages Việt Nam