Nếu đã đôi lần đến với Ninh Thuận hẳn là bạn đã nghe đến làng Paley Hamu Trok, nghe câu chuyện về đất “Thạch Sanh” hay từng mãn nhãn với vẻ đẹp của gốm Bàu Trúc – vốn được xem làng gốm cổ nhất Đông Nam Á? Nếu chưa, hãy cùng Phoenix Voyages Việt Nam khám phá vẻ đẹp và những câu chuyện thú vị tại ngôi làng này nhé.

Cổng làng gốm Bàu Trúc. Ảnh: sưu tầm.

Sông Quao, làng gốm Paley Hamu Trok và làng gốm Bàu Trúc

Nằm ở mé bên phải Quốc lộ 28 theo hướng từ Lâm Đồng đi Bình Thuận, Sông Quao chỉ có nước vào mùa mưa, làm mỗi chức năng là thoát lũ ra sông Dinh. Cạnh sông Quao có cánh đồng chuyên cung cấp nguyên liệu để người Chăm làm gốm. Tên gốc của làng ấy là làng gốm Paley Hamu Trok mà hiện nay được chúng ta quen gọi là làng gốm Bàu Trúc, một trong những làng gốm lâu đời nhất Đông Nam Á, đã lấy đất từ cánh đồng này suốt mấy trăm năm qua.

Vị trí sông Quao trên Google Maps. Ảnh: chụp màn hình.Vị trí sông Quao trên Google Maps. Ảnh: chụp màn hình.

Người Chăm sống ở làng Bàu Trúc hiện khoảng trên 1.000 hộ với hơn 6.000 nhân khẩu dân tộc Chăm gắn bó với nghề gốm truyền thống “mẹ truyền con nối“. Lễ hội Kate hằng năm, dân làng vẫn giỗ tổ nghề gốm của họ là vợ chồng Pô Klong Chanh. Được biết, Pô Klong Chanh là một quan cận thần của vua Pô Klong Garai (1151 – 1205), người mà trước đây đã được được vua Shihavaman (Chế Mân) đặt tên cho một cụm tháp Chăm đồ sộ còn lại hiện nay tại Ninh Thuận. Theo dân làng Bàu Trúc truyền miệng từ bao đời nay, tổ tiên của họ đã được vợ chồng ông tổ Pô Klong Chanh đưa đến định cư ở cánh đồng Mamu Trok. Tại đây, họ được dạy đào đất sét làm gốm, lập nghiệp sinh nhai, thoát cảnh cơ hàn.

Tượng tổ nghề làng gốm Bàu Trúc: vợ chồng Pô Klong Chanh. Ảnh: © Dulichbenvung.com

Theo lời kể của anh Vạn Phú Đoan thì làng gốm Paley Hamu Trok và làng Bàu Trúc thực chất là hai địa danh điểm khác nhau, nằm cách nhau chừng 4km. Hàng trăm năm trước, tổ tiên của người Chăm (ở Bàu Trúc hiện nay) đã định cư tại làng Paley Hamu Trok (nằm ở khu vực phía tây đường tàu) nhưng đến năm Giáp Thìn 1964 thì có một trận lụt lớn, để an toàn, ông quận trưởng quận An Phước (trước năm 1975 gọi là huyện Ninh Phước) đã cho di dời người dân về khu vực phía đông đường tàu vì nhận thấy nơi đó đấy không bị lụt và an toàn hơn. Đặc biệt, ở đó có một cái bàu khá rộng với những và nhiều cây trúc mọc nên người dân đã đặt tên là làng Bàu Trúc. Vốn đã gắn bó với nghề gốm lâu đời và do tính chất đặc biệt khó thay thế của đất sét sông Quao, mặc dù đã rời khỏi nơi cư trú cũ, người dân vẫn trở lại đây sau mỗi vụ gặt để lấy đất về làm gốm.

Ngày nay, Làng gốm Bàu Trúc nằm cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 10km thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, được biết đến là làng nghề truyền thống lâu đời của đồng bào Chăm còn tồn tại cho đến ngày nay vẫn giữ nguyên phương thức sản xuất thủ công độc đáo, cho ra những sản phẩm gốm là sự kết hợp nhuần nhị của ba yếu tố thủy-hỏa-thổ, mà mỗi người dân Bàu Trúc luôn ý thức trong mình rằng mỗi một sản phẩm gốm là tặng phẩm của vũ trụ đặc biệt dành riêng cho họ.

Điều thú vị sau những cái tên

Như đã nói ở trên, cứ sau mỗi vụ gặt, người dân đến bên bờ sông Quao, cào đất trên bề mặt ruộng bỏ qua một bên, đào lấy đất sét bên dưới, sau đó lấp lại như cũ. Điều kỳ lạ mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa lý giải được là chỗ lấy đất ấy người ta đào mãi hàng trăm năm nay mà vẫn không có dấu hiệu lõm xuống chút nào, đất vẫn cứ sinh ra mãi. Paley Hamu Trok, có nghĩa là “làng có cánh đồng lồi” cũng được người dân đặt cho làng với lý do đó. Có người còn ví von nó như đất “Thạch Sanh” nhằm ngụ ý đó là món quà trời đất đã ban cho người dân nơi đây, như nồi cơm trong truyện cổ tích Thạch Sanh Lý Thông: ăn mãi không hết.

Nét độc đáo trong cách làm gốm Bàu Trúc

Người dân ở làng gốm chia sẻ rằng chỉ ở đây đất sét mới nhuyễn, mịn, dẻo và có thể trộn với cát. Lượng cát được sử dụng để trộn với đất sét phải tùy thuộc theo kích thước và công dụng của mỗi loại sản phẩm. Chính vì thế, đất gốm Bàu Trúc không làm bằng bàn xoay được, khi đặt khối đất sét lên bàn xoay, dường như đất dính chặt vào bàn xoay. Do đó người phụ nữ Chăm phải dùng đôi chân của mình di chuyển xung quanh bệ đỡ trong khi bàn tay viền khéo léo nhào nặn nên hình hài của gốm. Để tạo ra sản phẩm, người nghệ nhân phải vừa nặn hình vừa chỉnh nắn để tạo dáng gốm ban đầu, sau đó dùng “vòng quơ” chải quanh thân gốm. Tiếp theo, là dùng “vải cuộn” thấm nước quấn vào tay rồi chà láng mặt ngoài của gốm để tạo nên một sản phẩm đặc sắc nhất. Kỹ thuật làm gốm Bàu Trúc được gọi với cái tên rất dân dã là “làm bằng tay, xoay bằng mông”. Xem qua, tưởng chừng rất dễ làm, nhưng nếu không được học và rèn luyện thì khó mà làm được. Người không biết nghề chỉ đi vài vòng quanh khối đất sét được đặt trên một trụ kê để nặn sản phẩm sẽ dễ bị hoa mắt chóng mặt, người khỏe có thể đi được nhiều vòng, nhưng không thể nặn được sản phẩm như mong muốn.

Nhờ vào những đặc tính rất riêng của đất sét vùng sông Quao, mà gốm Bàu Trúc có chất lượng và tạo hình hoàn toàn khác biệt so với những loại gốm khác trên thị trường. Nước hay thực phẩm để trong các sản phẩm gốm Bàu Trúc đều có nhiệt độ mát hơn, và bảo quản được lâu hơn.

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm Bàu Trúc được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chứng nhận và đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.

Gốm Bàu Trúc cũng được nung theo cách khác biệt so với gốm ở những nơi khác, đó là không nung trong lò mà nung lộ thiên (ngoài trời) để lấy khí oxy tuyệt đối. Sau khi nung khoảng 6 tiếng, gốm sẽ được lấy ra để phun màu. Loại màu này thường được chiết xuất từ trái dông, trái thị ở trên rừng chứ không phải màu hóa học, rồi chúng tiếp tục được nung lại trong vòng 2 giờ nữa. Nhờ đó, gốm Bàu Trúc có màu đặc trưng vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, vệt nâu rất đẹp mắt.

Nung lộ thiên gốm Bàu Trúc. Nung lộ thiên gốm Bàu Trúc. Ảnh: sưu tầm.

Sản phẩm gốm Bàu Trúc thể hiện rất nhiều tình cảm của người Chăm, do đó tạo hình hay những nét hoa văn trên sản phẩm luôn hiện hữu vẻ lung linh của nền văn hóa Chămpa cổ xưa, điển hình như hoa văn trang trí lấy cảm hứng từ những vật trang sức của người phụ nữ Chăm như khuyên tai, những sợi cườm đeo cổ lúc người ta đi hội trên tháp, hay từ những câu chuyện giản dị trong đời sống…

Nét đẹp của người phụ nữ Chăm bên những sản phẩm gốm tạo ra từ bàn tay khéo léo của mình. Ảnh: sưu tầm.

Nghề gốm ban đầu theo kiểu “mẹ truyền con nối” nên hầu hết phụ nữ Chăm ở Bàu Trúc đều biết làm gốm. Các cháu gái 12-15 tuổi đã bắt đầu học nghề cho đến khi có chồng thì biết làm đủ các sản phẩm từ ấm đất đến lu đựng nước. Mỗi sản phẩm gốm đều mang trong mình một câu chuyện, một ý nghĩa, mang ngụ ý của người làm ra nó. Vì thế không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn rất giàu giá trị tinh thần, phảng phất nét đẹp từ tâm hồn của người tạo ra chúng. Từ nguyên liệu đất sét, cát và nước họ đã tạo ra những tác phẩm có thể nói độc nhất vô nhị. Không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào cả vì tất cả sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc đều được tạo bằng tay, không hề dùng bất kỳ khuôn mẫu nào cả. Mặc dù, mỗi nghệ nhân có thể nhào nặn một lần hàng chục cái bình, tuy nhiên các sản phẩm không bao giờ giống nhau, nên thường gọi là “độc bản”. Chính vì lẽ đó, gốm Bàu Trúc được ngợi ca là loại gốm mộc độc bản và ấm bàn tay con người nhất. Đó là yếu tố quan trọng để đồng bào Chăm vẫn luôn cần mẫn để duy trì và gìn giữ tinh hoa của một làng nghề cổ xưa bằng tất cả tâm hồn, sự sáng tạo và đôi tay khéo léo của mình.

Minh Hạ & Cao Hợp – Phoenix Voyages Việt Nam